Actions

Work Header

Rating:
Archive Warning:
Category:
Fandom:
Relationship:
Characters:
Additional Tags:
Language:
Tiếng Việt
Collections:
Anonymous
Stats:
Published:
2026-06-10
Completed:
2026-06-13
Words:
17,876
Chapters:
4/4
Comments:
38
Kudos:
92
Bookmarks:
5
Hits:
1,089

Đôi bờ

Summary:

Ai tò mò thì hãy đọc thử, năn nỉ

Notes:

(See the end of the work for notes.)

Chapter 1: Chợt mộng tan gác vắng bóng em

Notes:

(See the end of the chapter for notes.)

Chapter Text

Thuở ấy mảnh đất phương Nam chia làm ba làng, làng Muồi, làng Lớn và làng Gừng. Làng Lớn toàn là dân di cư, làm ăn phát đạt, tuy cùng ở đất phương Nam nhưng lại nằm xa tít tắp, đời sống khoáng đạt tự do, chưa kể còn văn minh giàu có, dân cư đông đúc, ngay cả giọng nói cũng khác với hai làng kia. Ở đời chẳng ai hoan nghênh cái thứ khác biệt, lại càng không thể bao dung nổi cái thứ khác biệt vừa giàu có lại vừa ngạo nghễ như làng Lớn. Thế nên, trong mắt dân làng Muồi và làng Gừng, sự phát đạt của làng Lớn không phải là phúc đức, mà là một cái gai chọc thẳng vào lòng tự ái của họ. Dù nằm xa tít tắp, nhưng mỗi khi có hội hè hay việc chung của vùng đất phương Nam, sự xuất hiện của người làng Lớn luôn vấp phải những cái nhìn lườm nguýt. Làng Muồi và làng Gừng tuy cũng chẳng ưa gì nhau, nhưng hễ cứ nhắc đến làng Lớn là họ bỗng chốc đứng cùng một chiến tuyến, đồng lòng cô lập kẻ "ngoại lai" lắm tiền nhiều của.

 

Làng Muồi nằm gần sông, đời sống khốn khó nhất, sống bằng nghề chài lưới, lại đầy rẫy hủ tục lạc hậu. Cho nên chuyện về thằng Khoa con ông Khôi, mang trong mình cái háng đàn bà là cái chuyện trong bất kỳ bữa trà dư tửu hậu nào cũng được nhắc đến.

 

Thuở ấy trời đất rạch ròi, âm dương tách biệt, thế quái nào vợ ông Khôi năm tứ tuần mới đẻ ra được một thằng con trai, nhưng khốn thay, chim cò thằng bé chẳng thấy đâu, lại thấy cái nụ đỏ hồng như bao đứa bé gái. Má nó tức nghẹn, qua đời ngày trên giường sinh, để lại hai cha con tội nghiệp bơ vơ.

 

Thằng Khoa vừa lọt lòng đã bị gán cho đủ thứ điềm gở. Hễ gặp chuyện gì không giải thích được, họ liền quy về ý trời.

 

Người bảo bà Khôi lúc mang thai đi ngang miếu hoang nên bị quỷ ám. Kẻ lại nói dòng họ ông Khôi đời trước thất đức, đánh bắt cá mùa sinh sản quá nhiều nên trời bắt trả nợ. Có bà lão còn quả quyết đã nhìn thấy một con chim cú đậu trên mái nhà họ Trần suốt ba đêm liền trước ngày đứa trẻ ra đời.

 

Lời đồn giống như cỏ dại trên đất phèn, chẳng cần ai chăm bón vẫn mọc um tùm. Ban đầu chỉ là vài câu xì xào bên mé sông. Ít lâu sau đã thành chuyện ai cũng biết. Đến mức những người chưa từng nhìn thấy mặt Khoa cũng có thể kể vanh vách về cái thân thể dị dạng của nó, như thể chính họ đã tận mắt chứng kiến lúc má nó sinh con.

 

Đời Khoa may mắn lắm từ khi tấm bé tới giờ, là có được người cha già yêu thương đùm bọc. Ông Khôi vốn là người ít chữ, quanh năm chỉ biết cúi mặt xuống sông nước mà kiếm miếng ăn. Cái lưng lão cong đi vì chèo ghe, đôi bàn tay nứt nẻ như vỏ cây già vì ngâm nước mặn. Người như thế, bảo lão hiểu thế nào là âm dương nghịch lý, thế nào là dị tật bẩm sinh, lão làm sao hiểu nổi. Nhưng có một điều lão hiểu, đứa nhỏ ấy là con lão. Chỉ vậy thôi.

 

Lão đem đứa nhỏ lên tận huyện cho thầy thuốc xem. Thầy thuốc nhìn đi nhìn lại, vuốt chòm râu bạc rồi chỉ lắc đầu. Lão lại chèo ghe đi xa hơn nữa, tới một nơi cách làng mấy ngày đường sông. Người ta xem xong cũng chỉ thở dài.

Không ai cho lão được một câu trả lời rõ ràng.

Dần dà, ngay cả chính lão cũng buông xuôi phó mặc số phận, chỉ biết dành hết tình yêu thương bù đắp cho đứa con nhỏ.

 

Đứa trẻ lớn lên nhanh như cỏ, mười tuổi đã cao lêu nghêu, tay chân dài ngoẵng. Khuôn mặt nó lại sáng sủa lạ thường. Da trắng hơn người làng Muồi, đôi mắt đen và sâu, giống hệt mắt mẹ nó ngày còn sống, bờ môi đầy đặn đỏ như máu, dù người ta có miệt thị nó, song, cũng chẳng thể phủ nhận thằng Khoa nó đẹp điên đảo như ánh mặt trời.

 

Nhưng cái đẹp của Khoa lại không phải thứ phúc phần mà trời ban cho người nghèo. Nó giống một nhát dao sắc lấp lánh dưới nắng hơn, càng sáng bao nhiêu lại càng dễ cứa vào lòng người bấy nhiêu.

 

Ở làng Muồi, người ta quen nhìn những gương mặt cháy nắng, những thân hình gầy guộc vì cơm không đủ no, áo không đủ mặc. Bởi vậy một đứa trẻ mang vẻ ngoài nổi bật như Khoa trở thành thứ gì đó lạc lõng đến chướng mắt.

Đàn bà trong làng thấy nó thì thương hại trước, rồi dè chừng sau. Họ nhìn đôi mắt đen lay láy ấy, nhìn làn da trắng ít thấy ở dân chài lưới, nhìn mái tóc dày mềm lúc nào cũng phủ xuống trán, rồi lại nhớ tới cái câu chuyện năm xưa mà lắc đầu thở dài.

 

Đàn ông thì khác. Đàn ông trong làng Muồi ít khi nói lời tử tế. Cái nghèo, cái khổ và những năm tháng dầm mình trong nước mặn đã làm lòng họ chai sần như da bàn chân. Họ nhìn Khoa bằng thứ ánh mắt nửa khinh miệt, nửa tò mò, giống như nhìn một con cá lạ vô tình mắc vào lưới.

 

 

Máu người không mặn bằng nước biển, vậy mà có những lời nói thốt ra còn làm rát môi hơn cả muối. Người làng sống cạnh nhau cả đời, biết nhau từ lúc còn cởi truồng tắm sông, nhưng lại chẳng bao giờ học được cách thương lấy nỗi đau của nhau.

 

 

/

 

Thời thế thế thời, chẳng ai xưng vương xưng bá được mãi.

 

Tháng hạ năm ấy gặp hạn, làng Lớn nằm nơi xa khuất, ở tận lưu vực thượng nguồn, nghiễm nhiên chẳng có dòng nước ngọt nào để cung cấp cá tôm, cũng chẳng còn những cơn mưa đều đặn nuôi sống ruộng đồng như mọi năm. Nắng kéo dài hết tháng này sang tháng khác, mặt đất nứt toác thành từng đường ngoằn ngoèo như những vết sẹo cũ. Những con kênh đào mà dân làng Lớn vẫn tự hào bỗng cạn trơ đáy, ghe thuyền mắc cạn giữa dòng, vườn cây héo lá.

 

Lần đầu tiên sau nhiều năm, cái làng giàu có ấy biết thế nào là bất lực trước trời đất, bây giờ đành phải hạ mình sang thương thảo chuyện đánh bắt với hai làng bên.

 

Những lời chế giễu theo gió lan đi khắp vùng. Bấy lâu nay dân làng Lớn luôn bị xem là kẻ ngoài cuộc, nay gặp lúc sa cơ, chẳng ai tiếc thương.

Nhưng cười thì cười vậy, chuyện làm ăn vẫn là chuyện làm ăn. Cá dưới sông không phải của riêng làng Muồi, càng không phải của riêng làng Gừng. Người làng Lớn mang theo bạc thật, gạo thật, hàng hóa thật, thứ mà hai làng kia thiếu nhất từ trước đến nay chính là tiền.

 

Ngay cả một hộ nhà nghèo bình thường chẳng ai đếm xỉa như nhà Khoa, còn có vài thương lái đi ra đi vào muốn mua lại thuỷ sản. Vốn dĩ nhà ông Khôi chẳng có gì đáng để người ta ngó ngàng.

Một túp lều vá víu bằng lá dừa nước dựng sát mé sông, một chiếc ghe cũ, mạn ghe đã mục vài chỗ, hai cha con sống bữa đói bữa no, mùa cá thuận thì đỡ, mùa cá nghịch thì ăn cháo cầm hơi.

Những năm trước, cá bắt được chỉ vừa đủ bán lấy gạo. Có khi thương lái đi ngang còn chê cá nhỏ, ép giá đến tận cùng. Ông Khôi nghe xong chỉ biết cười trừ. Người nghèo mà, làm gì có quyền lựa chọn.

 

Nhưng hạn hán tới, mọi sự lại khác. Cá dưới sông bỗng hóa thành thứ quý giá. Thương lái từ làng Gừng sang, thương lái từ làng Lớn xuống. Họ đứng ở bến nước, trả giá bằng những đồng bạc sáng loáng mà dân làng Muồi quanh năm chưa chắc được cầm trong tay.

 

Người làng thấy thế thì đỏ mắt lạ lắm. Ngày trước nhà ông Khôi nghèo, họ thương hại một chút, khinh bỉ một chút. Bây giờ nhà lão có thêm ít tiền, sự thương hại mất đi, chỉ còn lại khinh bỉ.

Con người ta vốn không sợ người khác khổ hơn mình, họ chỉ sợ người khác đỡ khổ hơn mình mà thôi.

 

Bấy giờ có một thương lái trẻ tuổi, trẻ nhất trong đám thương lái tới nhà Khoa mua cá, nghe đâu anh tên là Huỳnh Sơn, mới được ba mươi xuân xanh.

 

Sống từ thuở bé tới giờ, đàn ông trong làng mà Anh Khoa thấy đều là những thằng to con lực lưỡng, hôi hám lại dung tục, đã bao giờ thấy vị nào khôi ngô tuấn tú, lại dịu dàng hơn cả cánh hoa ngoài kia như Huỳnh Sơn đâu. Cho nên ánh mắt nó cứ vô thức dính chặt trên người anh, đến khi bị người đàn ông bắt gặp, nó mới cuống quýt dời mắt đi, lúng túng đỏ hết cả hai vành tai.

 

Nhưng hình như kẻ kia, lại cũng rất chú ý tới nó. Anh nán lại lâu lắm, còn chèo kéo được ông Khôi mời một bữa cơm.

 

Cơm chẳng có gì quý giá, chỉ là nồi cá kho mặn, đĩa rau luộc hái sau hè cùng chén nước mắm ớt giằm. Khoa ngồi đối diện Huỳnh Sơn, cả bữa cơm, nó chẳng ăn được bao nhiêu.

 

Tuổi mười tám là cái tuổi kỳ quái. Nhìn thấy một người thuận mắt thì tim đập nhanh hơn một chút. Thấy người ấy cười thì trong lòng cũng tự nhiên xốn xang một chút. Nhưng hỏi vì sao xốn xang, chính bản thân cũng chẳng biết. Nó chỉ biết người đàn ông kia rất khác.

 

Huỳnh Sơn có đôi bàn tay trắng và sạch sẽ. Ngón tay thon dài, móng được cắt gọn gàng. Khi nâng chén cơm, động tác cũng từ tốn, ngay cả giọng nói cũng nhẹ hơn người làng Muồi rất nhiều. Khoa lén nhìn vài lần, rồi bị bắt gặp vài lần, thẹn thùng nghèn nghẹn như mắc xương cá trong cổ họng.

 

Vài ngày sau Huỳnh Sơn vẫn đều đặn tới, có lẽ vì quý mến hai cha con tội nghiệp, anh còn mang theo gạo, mang theo quà cáp biếu xén, lại có lúc là vài cân đường trắng, khi thì một xấp vải còn thơm mùi hồ mới, bảo là của làng Lớn làm ăn được chút đỉnh nên tiện tay đem xuống.

 

Khoa không biết những thứ quà kia đáng giá bao nhiêu. Nó chỉ thấy mỗi lần Huỳnh Sơn tới, khoảng sân nhỏ trước nhà như sáng hơn một chút, trái tim nhỏ trong ngực nó lại rung rinh nhiều lên.

 

Đêm ấy trăng lên sáng tít, tròn vành vạnh trên trời. Huỳnh Sơn uống vài chén rượu nhạt, trong đầu biêng biêng, ngỏ ý muốn nhờ Anh Khoa đưa ra bến sông cho khuây khoả đầu óc.

 

Một lớn một nhỏ bước đi cùng nhau trên con đường làng sỏi đá, chẳng ai nói với ai câu nào.

Đêm miền sông nước tĩnh lặng lắm. Tiếng côn trùng rỉ rả trong những bụi cỏ ven đường. Xa xa, mặt sông hắt lên một dải bạc loang loáng dưới ánh trăng. Gió từ ngoài bờ nước thổi vào, mang theo mùi phù sa và mùi rong rêu ẩm lạnh.

 

Khoa đi chậm hơn nửa bước, không dám đi ngang hàng với Huỳnh Sơn. Anh đi được một lúc mới quay đầu nhìn

 

“Sao đi xa vậy? Sợ anh ăn thịt à?”

 

Khoa giật mình, lúng túng chạy lên ngang anh, “đâu có, tại chân anh dài quá bước nhanh đó thui”

 

Huỳnh Sơn khẽ cười, bước chân anh chậm lại, người nhà giàu xài nước bông gì thơm quá, bước cạnh nhau mới thấy hương thơm ấy đậm như nào, cứ len lỏi vào lỗ mũi nó, vấn vương vô cùng.

 

“Khoa có cô nào để ý chưa?”

 

“Dạ?”

 

Nó ngơ ngác, rồi gãi đầu đáp, “em làm gì có cô nào đâu anh”

 

“Thế có anh nào chưa?”

 

“Anh hỏi kì quá, đàn ông không mà anh nào”

 

Trả treo là vậy, nhưng sâu trong lòng nó biết tỏng, treo cái thứ đàn ông trên chính mồm mình ngượng đến thế nào.

 

“Chán nhỉ? Thế xem ra, anh lại là đàn bà rồi”

 

“Là…là sao ạ?”

 

“Tại anh để ý Khoa nhiều đấy, mà em bảo đàn ông với nhau, thì anh chẳng phải đàn bà còn gì? Mới được để ý em chứ?”

 

Vành tai nó nghe câu nào câu nấy lùng bùng cơ man, chẳng hiểu anh đang nói cái gì, thế nhưng cứ nóng rực lên. Muốn hỏi lại chẳng biết có đúng ý nó đang nghĩ không, sợ mình ảo tưởng lại quê chết. Thế rồi, Huỳnh Sơn lại đột ngột nắm tay nó, giơ lên trước mặt, cúi xuống hôn một cái, tim nó như nhảy vọt từ ngực lên tới cổ, lắp bắp hỏi, “anh…anh làm gì đó?”

 

“Thế Khoa có để ý anh không? Có muốn thương anh không?”

 

Chao ôi miệng lưỡi đàn ông cứ thế đánh trúng ngực nó, vừa xon xót lại vừa ngòn ngọt. Bàn tay bị Huỳnh Sơn nắm lấy nóng ran như có lửa đốt. Cái nơi vừa được anh cúi đầu hôn qua tưởng chừng còn lưu lại hơi thở, lưu lại cả mùi rượu nhạt và mùi hương thơm thoang thoảng trên người anh. Nó ngây người nhìn Huỳnh Sơn, môi hé mở, nhưng mãi chẳng nói được câu nào.

 

Kỳ thực khi cơn hoảng hốt qua đi, nó lại thấy phân vân nhiều hơn. Chữ thương tròn đầy rót ra khỏi miệng anh, liệu có bao nhiêu phần chân thật, nó lắm tật nhiều tàn, ngay cả nó còn chẳng thương nổi mình, nữa là một người đức cao vời vợi như anh ngó ngàng. Dẫu sao cũng chỉ quen nhau dăm ba bữa, nó ít học, thấp hèn, sự khác biệt giữa nó và anh nào có khác gì khoảng cách giữa vũng bùn dưới đáy sông và vầng trăng sáng trên đỉnh trời kia đâu.

 

Khoa thẫn thờ rút ray lại, giấu sau vạt áo sờn cũ, cúi gằm mặt xuống để tránh ánh mắt quá đỗi thâm tình của người đàn ông đối diện, “anh đừng trêu em, em không như người ta đâu. Nếu anh chưa biết thì ở đây người ta coi em như quái thai dị hợm…em-“

 

“Nào, em đừng nói thế”

 

Huỳnh Sơn cắt lời nó, tiến lên một bước, thu hẹp khoảng cách vừa bị nó nới ra. Đôi bàn tay sạch sẽ, thơm tho của anh một lần nữa vươn ra, nhưng lần này là nhẹ nhàng nâng cằm nó lên, ép nó phải nhìn thẳng vào mắt mình.

 

“Cái gì là quái thai, cái gì là dị hợm? Anh chỉ thương em vì em là em, nào cần quan tâm chuyện khác. Khoa có tin anh không?”

 

Bấy giờ trong lòng nó đã tan ra như sóng vỗ mạn thuyền, người này ấm áp quá, trong vành mắt anh in đậm bóng hình một mình nó, không thể tránh, không thể có thêm một giây ngờ vực và nhiều thêm những tâm tư tham lam nó từng chôn kín bấy lâu.

 

Nó muốn được yêu thương, Anh Khoa cũng muốn được yêu thương người khác.

 

 

Bóng trăng lập lờ rọi xuống mặt nước, in bóng chung đôi bờ vai đang tựa vào nhau, bốc lên cái ái tình nồng đượm mà quấn quýt thuở mới bên nhau. Ngỡ là một giây khắc khoải người trải lòng, người nói thế, ta tin và chẳng ngờ đâu lại là ái tình sâu sắc nhất. Tuổi mười tám Anh Khoa đã có bóng trăng sáng tỏ nhất trong đời, sát bên cạnh nó, vai kề vai, tay đan tay và nghe ánh trăng ngân lên những khúc nhạc tại miền đất hứa xa xôi.

 

Trong ký ức của Anh Khoa trước đây, trời đất chỉ có ngày và đêm, mùa hạn và mùa mưa, lời mắng chửi và sự dè bỉu. Thế nhưng năm nay lại khác, trời đất đảo điên, quay cuồng lộn xộn, nặn ra hình bóng một người đàn ông, ấp nó trong tay, hôn nó mỗi đêm, nói thương nói yêu, nâng niu như bảo vật quý hiếm. Và trong khoảnh sân nhỏ nghèo nàn, có người đàn ông nằm trên hiên, gối đầu lên đùi nó, nói biết bao nhiêu điều hay lẽ phải, cho nó tương lai và hy vọng. Là người nó ấp ôm trong lòng, có đổi cả mạng sống cũng không muốn trả lại.

 

Và cũng trong ký ức của Anh Khoa, âm dương tách biệt, ai ngờ lại có một ngày dung hoà tới thế, mắt chạm mắt, môi kề môi, tóc mai quyện vào nhau vấn vít. Căn buồng nhỏ chật hẹp, trên chiếc giường tre kẽo kẹt chứa thân thể hai người đàn ông loã lồ, dính lấy nhau tựa hồ. Cái thứ âm vật kì quặc của nó đang gắt gao bọc lấy cặc đàn ông thô lớn, đau và sướng, trộn lẫn với nhau đưa nó lên tận đỉnh mây xanh, tan ra trong những giọt mồ hôi thánh thót đọng trên eo, trên lưng. Giọt máu đào rỏ xuống, Anh Khoa biết hình như mình cũng yêu cái thân thể này biết bao, vì có người cũng trân trọng nó, bảo bọc nó, đắm chìm vào nó như lẽ tự nhiên trên đời, chẳng có gì là sai trái đạo giời.

 

Hạ qua thu tới, đông tàn xuân sang, bốn mùa quanh năm bện hơi, Huỳnh Sơn không thiết tha về nhà, ngày ngày chỉ muốn quấn quýt bên cạnh thương yêu của anh, dù rằng cả hai chỉ có thể ở cạnh nhau kín kẽ như những chiếc bóng.

 

Ánh mắt của Khoa từ trước tới nay vốn giống một mặt hồ phủ sương. Bây giờ lớp sương ấy tan đi, để lộ thứ ánh sáng long lanh bên dưới.

 

Ông Khôi nhìn con trai mình, trong lòng ít nhiều cũng đoán được, lão già rồi. Cả đời từng trải đủ chuyện, làm sao không nhận ra vẻ mặt của một người đang tương tư. Chỉ là lão không hỏi, đời người khổ quá lâu rồi, khó khăn lắm mới có được chút vui vẻ, hà tất phải đào bới cho thêm nặng lòng.

 

Người làng chẳng ai hay, cũng không được quyền biết, thiên thời địa lợi nhân hoà, cứ vậy nuôi dưỡng tình cảm nảy mầm ngọt ngào.

 

Cho đến một ngày, Huỳnh Sơn nhận được thư nhà, dù không nỡ xa Anh Khoa, nhưng nhà có chuyện gấp, anh cũng không thể không về một chuyến, lưu luyến dặn dò nhau mãi mới xuôi ghe rời đi.

 

Đêm ấy trời chẳng có trăng, mặt sông im lìm chỉ còn tiếng sóng vỗ nhè nhẹ vào mặt thuyền, trong lòng Anh Khoa đột nhiên rất nóng ruột, như có cả ngàn con kiến bò vào, nhưng chỉ có thể im lặng nhìn Huỳnh Sơn đã đi xa, bóng hình tan vào mặt sông đen kịt.

 

Mà khi ấy Anh Khoa cũng chẳng hay, trong bụng mình lại đang có một hạt giống nảy mầm, là kết tinh tình yêu của nó và Huỳnh Sơn.

 

Notes:

-yanlei2026-